Những phương pháp giáo dục sớm cho bé dưới 7 tuổi (P.1)

Với mỗi con người, những năm đầu đời đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách và sự phát triển năng lực cá nhân. Trẻ em bẩm sinh đã có khả năng tiếp thu học tập, não bộ đã được lập trình để tiếp nhận các thông tin cảm quan và từ đó sử dụng nó hình thành hiểu biết và giao tiếp với thế giới bên ngoài.

cropped-baby.png

Việc được hưởng sự chăm sóc và phát triển tốt từ lứa tuổi trẻ thơ sẽ góp phần tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển trong tương lai của trẻ.

Một số phương pháp giáo dục sớm hiện đang áp dụng trên thế giới:

  1. PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI

Trích lời Montessori “ Trẻ em sinh thời đã là người quan sát, đặc biệt hứng thú với nhất cử nhất động của người lớn, đồng thời mong muốn bắt chước hành động đó. Xét từ đó, người lớn cần gánh vác một loại trách nhiệm. Họ có thể trở thành nguyên nhân gây ra hành động của trẻ, hoặc trở thành một cuốn sách mở sẵn để trẻ học tập. Nếu người lớn có thể làm tốt nhiệm vụ của một chỉ huy thì trước mặt trẻ cần tập trung chú ý thực hiện hành vi một cách yên lặng và từ từ để trẻ có thể nhìn rõ từng cử động một”

montessori-approach

Phương pháp Giáo dục Montessori là một phương pháp sư phạm giáo dục trẻ em dựa trên nghiên cứu và kinh nghiệm của bác sĩ và nhà giáo dục Ý Maria Montessori (1870–1952).

Đây là phương pháp với tiến trình giáo dục đặc biệt dựa vào việc học qua cảm giác. Năm 1907 bà bắt đầu sự nghiệp là nhà giáo dục khi bà được mời tổ chức 1 trường trong khu tái định cư ổ chuột khu vực San Lorenzo, Ý. Trong giai đoạn này bà đã quan sát thấy rằng trẻ em hoàn toàn bị cuốn hút bởi các vật dụng và chất liệu được thiết kế để trợ giúp sự cảm nhận của giác quan. Tiến sĩ Montessori tiếp tục phát triển những sự trợ giúp dạy học chuyên biệt được dùng cho những trẻ trong môi trường thích hợp và tôn trọng những đặc tính riêng biệt của trẻ.

Phương pháp Montessori chấp nhận sự duy nhất của mỗi trẻ và cho phép trẻ phát triển tuỳ theo những khả năng riêng của mình và thời gian riêng của mình. Do đó việc tổ chức các lớp học theo mô hình Montessorri phải đảm bảo sự tôn trọng tính riêng biệt của mỗi trẻ và phải bố trí phòng học và bài học phù hợp những nhu cầu và mục đích của mỗi em.

Phương pháp chủ yếu được áp dụng cho trẻ nhỏ từ 2-6 tuổi do các bản năng và sự nhạy cảm duy nhất của trẻ nhỏ đối với các điều kiện trong môi trường.

Đặc điểm nổi trội ở phương pháp Montessori là nhấn mạnh đến vai trò của tính tự lập, tự do (trong khuôn khổ cho phép) trong việc hình thành nhân cách trẻ. Ngoài ra, phương pháp này rất tôn trọng sự phát triển tâm sinh lý tự nhiên của trẻ, cũng như trang bị đầy đủ cho học sinh các kiến thức khoa học công nghệ tiến bộ và hiện đại. Tổ chức AMI (Hiệp Hội Montessori Quốc tế) và AMS (Hiệp Hội Montessori Mỹ) đã nêu ra đặc trưng của phương pháp học Montessori như sau:

  • Lớp học ghép các lứa tuổi lại với nhau. Thông thường là các trẻ từ 2½ hay 3 tuổi đến 6 tuổi.
  • Trẻ tự lựa chọn hoạt động (với điều kiện là các hoạt động này đã được giáo viên lên kế hoạch sắp xếp trước)
  • Trẻ không bị ngắt quãng hay làm phiền trong quá trình ‘làm việc’
  • Học sinh học hỏi khái niệm, kiến thức thông qua trải nghiệm thực tế với các học cụ, mô hình mang tính chất khám phá, xây dựng, hơn là học theo chỉ dẫn trực tiếp từ phía giáo viên.
  • Các học cụ giáo dục đặc biệt được Bà Montessori và đồng sự nghiên cứu, sáng tạo và phát triển nên.

 

Góc nhìn của Montessori về nền giáo dục nhân loại:

Montessori nhận thấy có những đặc tính mang tính bẩm sinh và phổ biến trong tâm lý con người mà con trai của bà và đồng sự Mario Montessori gọi đó là ‘human tendencies’ – ‘xu hướng của nhân loại’ (năm 1957). Những xu hướng đó là:

  • Bản năng tự bảo toàn
  • Khuynh hướng thích gần gũi với thiên nhiên
  • Tính trật tự
  • Thích khám phá
  • Giao tiếp
  • Làm việc hay còn được mô tả là ‘hoạt động có mục đích’
  • Thao tác với môi trường xung quanh
  • Tính chính xác
  • Tính lặp lại
  • Tính trừu tượng
  • Tính hoàn hảo
  • Trí tuệ toán học

Trong phương pháp Montessori, xu hướng trên được xem là các hành vi chủ đạo trong mỗi giai đoạn phát triển và phương pháp giáo dục tốt là phương pháp dựa trên các hành vi này, đơn giản hóa chúng và có tính ứng dụng phù hợp.

Môi trường giáo dục theo Phương Pháp Montessori cần được chuẩn bị trước:

Môi trường giáo dục của Montessori là nơi học sinh được tự do hoạt động trong một ‘môi trường được chuẩn bị’ – được thiết kế phù hợp với đặc trưng phát triển cơ bản của con người nói chung và tính cách mỗi cá nhân nói riêng ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Môi trường đó cho phép trẻ phát huy tính độc lập ở tất cả các lĩnh vực, phù hợp với xu hướng phát triển tâm lý bên trong trẻ.

Ngoài yếu tố tiếp cận dễ dàng với các học cụ Montessori theo từng lứa tuổi, môi trường Montessori còn phải thể hiện được các tiêu chí dưới đây:

  • Xây dựng phù hợp với nhu cầu của trẻ
  • Đẹp, hài hòa, sạch sẽ
  • Có tính trật tự
  • Có sự sắp xếp hợp lý giữa các hoạt động
  • Các học cụ mang tính chuyên biệt, giúp tạo sự phát triển toàn diện của trẻ

 

Các mức độ phát triển của trẻ theo góc nhìn của Montessori

Montessori chia sự phát triển của con người ra làm bốn giai đoạn, từ lúc mới sinh đến 6 tuổi, từ 6 -12 tuổi, từ 12-18 tuổi và từ 18-24 tuổi. Mỗi giai đoạn có những đặc trưng không giống nhau và tương ứng là các phương pháp tiếp cận giáo dục khác nhau cho từng giai đoạn:

Giai đoạn đầu tiên:

Là giai đoạn sau sinh đến khi trẻ được khoảng 6 tuổi. Theo sự quan sát của Montessori, trong suốt giai đoạn này trẻ trải qua quá trình phát triển tâm sinh lý không ngừng và nổi bật nhất. Trẻ là những cá nhân học tập và khám phá thế giới xung quanh rất tinh tế bằng các giác quan nhạy bén của mình, từ đó hình thành nên tính độc lập và tự xây dựng mang nét riêng của từng cá nhân. Montessori đã nêu ra một số khái niệm để giải thích quá trình ‘làm việc’ này của trẻ, bao gồm khái niệm về trí tuệ thẩm thấu , các thời kỳ nhạy cảm và sự bình thường hoá.

Trí tuệ thẩm thấu:

Montessori mô tả hành vi của trẻ nhỏ nỗ lực không ngừng nghỉ học hỏi thông qua các kích thích từ môi trường xung quanh – các giác quan, ngôn ngữ, văn hóa, và hình thành khái niệm với thuật ngữ ‘trí tuệ thẩm thấu’. Tiến sĩ Montessori thấy rằng giai đoạn phát triển quan trọng nhất của trẻ nằm ở sáu năm đầu đời – thời điểm trẻ sở hữu trong mình ‘Trí Tuệ Thẩm Thấu’. Nói cách khác, trẻ tiếp thu thế giới xung quanh giống như miếng bọt biển thấm hút nước vậy. Do đó, mục tiêu giáo dục trong thời kỳ này là trau dồi, tu dưỡng khát khao học hỏi và tiếp thu một cách tự nhiên của trẻ.Bà cũng cho rằng đây là khả năng duy nhất, đặc biệt trong giai đoạn đầu đời của trẻ và nó phai nhạt dần sau khi trẻ được 6 tuổi.

Thời kỳ nhạy cảm:

Montessori cũng quan sát các giai đoạn nhạy cảm đặc biệt của trẻ trước những kích thích từ môi trường xung quanh. Bà gọi đó là ‘Thời kỳ nhạy cảm’. Môi trường lớp học Montessori (các học cụ và hoạt động) được thiết kế và sắp xếp phù hợp với từng giai đoạn nhạy cảm mà trẻ bộc lộ. Montessori đã chỉ ra các giai đoạn nhạy cảm đó, bao gồm:

  • Việc học tập, lĩnh hội ngôn ngữ – từ lúc mới chào đời đến khi trẻ được khoảng 6 tuổi
  • Tính trật tự – giai đoạn trẻ từ 1-3 tuổi
  • Sự gọt giũa tinh tế của các giác quan – từ lúc mới sinh đến 3 tuổi
  • Sự đam mê với các đồ vật nhỏ – khi trẻ được 18 tháng đến 3 tuổi
  • Sự phát triển của các hành vi xã hội – khi trẻ được 2,5 – 4 tuổi

Sự bình thường hoá:

Khái niệm này xuất phát từ yếu tố tập trung vào hoạt động đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ. Điểm nổi bật của nó là khả năng tập trung cũng như ‘các nguyên tắc không gây gò bó hay ép buộc theo khuôn khổ, trẻ cảm thấy hạnh phúc khi được làm việc, biết cảm thông và tham gia giúp đỡ những người khác’.

Mô hình giáo dục dành cho lứa tuổi ban đầu ( 0-6 tuổi):

Montessori đưa ra nhiều thuật ngữ liên quan đến chương trình học giai đoạn này. ‘Nido’ tiếng Ý, dịch ra có nghĩa là ‘tổ chim’ dùng để chỉ một số lượng nhỏ trẻ tử 2 tháng đến 14 tháng tuổi, khi trẻ đã biết đi.

‘Một Cộng đồng Trẻ Nhỏ’ ám chỉ số lượng trẻ nhiều hơn từ 1 – 2 tuổi rưỡi và 3 tuổi. Cả hai nhóm này đều được học trong môi trường có học cụ và hoạt động thiết kế phù hợp với độ lớn, kích thước và khả năng của trẻ. Trẻ hoàn toàn có cơ hội phát triển vận động và tính độc lập.

Việc rèn luyện cho trẻ kỹ năng tự đi vệ sinh cũng được đặc biệt chú ý trong giai đoạn này. Một số trường còn có mô hình lớp học ‘phụ huynh-học sinh’, cho phép cha mẹ vào lớp cùng các con.

Giai đoạn thứ hai (trẻ từ 6-12 tuổi)

Trong giai đoạn này, Montessori quan sát sự thay đổi về tâm sinh lý của trẻ, từ đó thiết kế môi trường học tập, kế hoạch bài giảng, học cụ phù hợp với những tích cách mới đặc trưng ở trẻ.

Về mặt sinh lý, Bà quan sát được quá trình thay răng ở trẻ và sự phát triển chiều cao của cơ thể trẻ. Về mặt tâm lý, Montessori nhận thấy có sự xuất hiện của ‘khuynh hướng tập thể – “herd instinct” – nghĩa là trẻ có xu hướng làm việc và giao tiếp theo nhóm; ngoài ra trẻ sở hữu trong mình trí tưởng tượng và biện giải vô cùng phong phú.

Qua những gì quan sát được, Montessori cho rằng quá trình ‘làm việc’ và phát triển của trẻ trong giai đoạn thứ hai này sẽ giúp chúng hình thành nên tính tự lập, khôn khéo, có tính tổ chức xã hội và dễ dàng tiếp thu các bài học đạo đức.

Mô hình giáo dục dành cho trẻ ở giai đoạn thứ 2 (6-12 tuổi) :

Các lớp tiểu học : Số lượng học sinh có thể từ ít đến Các lớp này có tên gọi là Ngôi Nhà Trẻ Thơ (‘Children’s House’). Lớp học có sự pha trộn giữa các lứa tuổi. Số lượng thường từ 20 – 30 học sinh, phụ trách bởi một giáo viên dày dạn kinh nghiệm và một trợ giảng.

Bàn ghế trong lớp được thiết kế dành riêng cho từng cá nhân hoặc nhóm trẻ hoạt động. Giá để học cụ cũng được thiết kế và sắp xếp đủ tầm với của trẻ. Ban đầu giáo viên sẽ giới thiệu mẫu hầu hết các hoạt động, sau đó trẻ tự do lựa chọn hoạt động mà chúng yêu thích.

Các học cụ và hoạt động trong lớp học giúp trẻ thực hành nhiều kỹ năng cơ bản như rót, xúc bằng thìa, học cụ phát triển các giác quan, học cụ liên quan đến toán học, ngôn ngữ, âm nhạc….

Cũng có sự pha trộn lứa tuổi ở bậc học này (nhóm 6-9 tuổi, nhóm 9-12 tuổi, thậm chí có nhóm 6-12 tuổi, nhưng hiếm gặp hơn). Trẻ sẽ được học theo nhóm, sau đó là hoạt động độc lập theo khả năng và sở thích của bản thân.

 

Quy mô hay chủ đề của bài học khá rộng. Montessori sử dụng thuật ngữ ‘giáo dục vũ trụ’ – ‘cosmic education’ để nói về vấn đề này. Bà cho rằng trẻ ở giai đoạn này cần được giáo dục để nhận biết vai trò của con người trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau khi tác động vào thế giới xung quanh.

Các học cụ và bài học trong giai đoạn này được thiết kế phục vụ cho các môn học như ngôn ngữ, toán học, lịch sử, các môn khoa học, mỹ thuật, vv… Ngoài ra, học sinh còn được tham gia khám phá môi trường sống xung quanh thông qua nhiều hoạt động ngoại khóa, dã ngoại.

Sự khác biệt giữa phương pháp giáo dục truyền thống và phương pháp giáo dục Montessori có thể tóm tắt một số ý chính như sau:

Lớp học truyền thống Lớp học Montessori
Cô có vai trò chính, trung tâm. Học sinh học thụ động, nhận thức do giáo viên áp đặt và sẽ mất tính sáng tạo, độc lập tự chủ Cô quan sát, hướng dẫn. Học sinh học chủ động, tự chơi, tự khám phá và sẽ trở thành những người độc lập về nhận thức và tính cách
Cô giữ gìn trật tự, kỷ cương trong lớp Cô khuyến khích các em tự giữ kỷ cương, chịu trách nhiệm cá nhân và xây dựng kỷ luật nội tâm
Cùng một lứa tuổi, nên hạn chế sự hợp tác giữa các bậc phụ huynh và học sinh. Các nhóm học tập cũng hạn chế 3-6 tuổi trong một lớp, khuyến khích sự hướng dẫn, giúp đỡ lẫn nhau, tăng cường sự hợp tác giúp phát triển kỹ năng học tập
Hoàn thành những bài tập với thời gian định sẵn Tăng cường sự tập trung, không gián đoạn để hoàn thành công việc
Kế hoạch học tập mẫu cho tất cả học sinh Kế hoạch công việc cho từng cá nhân
Tốc độ dạy được tiêu chuẩn hóa. Sai sót được cô sửa chữa , coi như khuyết điểm Tốc độ dạy tùy thuộc vào sự tiếp thu của học sinh, học sinh tự nhận biết sai sót và tự sửa chữa
Học thuộc lòng, khen thưởng, kỷ luật để tăng cường sự học tập Hiểu và cảm nhận sự thành công tăng để cường sự học tập

 

2. PHƯƠNG PHÁP SHICHIDA – NHẬT BẢN

Phương pháp giáo dục sớm Shichida là phương pháp giáo dục bắt nguồn từ Nhật Bản và được đặt tên theo chính người đã sáng lập ra phương pháp – giáo sư Makota Shichida (1929-2009).

Giáo sư Makoto Shichida là một nhân vật uy tín lớn và nhà giáo dục tiên phong trong lĩnh vực Giáo dục sớm ở Nhật Bản. Ông đã bắt đầu chuyến hành trình cuộc đời trong lĩnh vực giáo dục trẻ nhỏ vào năm 1958 khi ông thành lập trường ngoại khóa chuyên sâu dạy tiếng Anh cho trẻ em tại Nhật. Sự thành công trong công việc đầu tiên với trẻ nhỏ đã thúc đẩy ông cống hiến hơn 40 năm cho Giáo dục sớm; và đặc biệt, phát triển phương pháp giáo dục phát triển toàn diện và cân bằng não bộ ở trẻ.

Giáo sư Shichida là Tiến sĩ trong lĩnh vực Giáo dục, tác giả của hơn 160 cuốn sách và nhận được rất nhiều giải thưởng tại Nhật cũng như quốc tế cho những đóng góp của mình đối với lĩnh vực Giáo dục sớm.

shichida (1)

Trẻ em trong giai đoạn từ 0 đến 6,5 tuổi được cho rằng có năng lực hấp thụ kiến thức mạnh mẽ nhất. Ở giai đoạn này, khả năng tiếp nhận và hấp thụ của trẻ tuyệt vời đến mức thiên tài nếu không được tác động mang tính giáo dục thì não sẽ không thể phát huy tối ưu và khả năng hấp thụ ấy sẽ biến mất. Những kiến thức được tiếp nhận vào khoảng thời gian này sẽ được ghi nhớ vào tiềm thức của trẻ một cách nguyên vẹn; theo thời gian những kiến thức này sẽ trở thành khả năng vận hành năng lực suy nghĩ, năng lực tư duy và năng lực sáng tạo ở trình độ cao.

Cở sở của giáo dục sớm bắt nguồn từ khả năng vô biên của trẻ trong 6 năm đầu đời. Thực tế, theo thuyết tài năng thuyên giảm và phát triển của não trẻ, 6 năm đầu tiên của bé có thể được chia ra làm 4 giai đoạn như sau:

shichida (2)

Giai đoạn thai kỳ: tiềm năng phát triển là vô hạn

Giai đoạn 0-3 tuổi: tiềm năng phát triển vượt trội

Giai đoạn 3-6 tuổi: chuyển tiếp từ não phải sang não trái

Giai đoạn 6-8 tuổi: phát triển hoàn thiện khoảng 90%

Những nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng thời điểm từ lúc mới sinh cho đến khi trẻ được 6 tháng tuổi, trong não bộ của trẻ sẽ có những chức năng đặc biệt giúp trau dồi từ vựng một cách tự nhiên. Khi trẻ 2 tuổi, trẻ có khả năng học hết các ngữ pháp khó giống như những nhà ngôn ngữ một cách tự nhiên đến mức chính trẻ cũng không nhận ra.

Bên cạnh đó, giáo dục sớm cho con không phải là phương pháp mang tính bó buộc chỉ mong con trở thành thiên tài. Cách giáo dục đó sẽ khiến mối quan hệ giữa Ba Mẹ và con cái trở nên căng thẳng và con sẽ không được rèn luyện những đức tính tốt đẹp để trở thành một con người tài đức. Ở Viện Giáo Dục Shichida Việt Nam, chúng tôi không những hướng tới một phương pháp giáo dục sớm giúp con phát triển tối đa những tố chất và tài năng ưu việt của con mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của tình yêu thương gia đình và các mối quan hệ tốt đẹp với mọi người và môi trường xung quanh.

 

Như vậy tuổi càng ít, khả năng của bé càng lớn. Phần lớn các bậc phụ huynh vẫn thường cho rằng trẻ nhỏ khó có thể tiếp thu được nhiều thông tin trong cùng một lúc nhưng thực chất, não của bé có thể thu nhận một khối lượng kiến thức khổng lồ. Ba Mẹ hãy tin tưởng rằng: tiềm năng của bé là vô biên, chỉ là bé còn quá nhỏ để nói cho Ba Mẹ nghe những gì mình biết.

 

Một khi đã bỏ qua thời kỳ thiên tài, não bộ của trẻ sẽ không thể quay trở lại như ban đầu. Ba Mẹ sẽ thấy rõ những thay đổi ở trẻ trong khoảng thời gian từ 0 đến 6,5 tuổi này nếu trẻ nhận được phương pháp giáo dục đúng đắn và thông minh. Những tác động mang tính giáo dục sẽ giúp bé phát triển não bộ một cách kì diệu. Để bé có thể khai phá và phát triển một cách tối đa những tố chất vốn có, Ba Mẹ cần loại bỏ những quan điểm sai lầm mà tham gia ngay vào việc giáo dục sớm cho con bởi không gì là quá sớm trong việc xây dựng một môi trường phát triển lý tưởng cho trẻ.

shichida (4)

shichida (5)

 

(còn nữa)

Advertisements

Cám ơn 2017

Năm tháng đi qua, năm tháng trưởng thành – Trân quý và giữ gìn, trải nghiệm và thử thách, yêu thương và vị tha, … đều được trải nếm đủ các “gia vị” ấy. Mọi thứ có thể đổi thay, nhưng tình cảm thì vẫn tràn đầy yêu thương, ấm áp.
Càng cảm nhận rõ nét và thấm thía ý nghĩa hai chữ Gia đình ở thời khắc giao thừa. Những việc đã đi qua, những người đã gặp, những người bạn đồng hành, những người thân yêu, những nụ cười, những giọt nước mắt hay cả những cảm xúc chưa diễn tả thành lời,… đồng hành trong năm vừa qua – Xin cám ơn tất cả.

thank-you-composition-with-vintage-style

Blog at WordPress.com.

Up ↑

Create your website at WordPress.com
Get started